Vietnet.no

Mạng lưới thông tin của Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Nauy

HNVTN-banner4
HNVTN-banner2
HNVTN-banner5
HNVTN-banner1
HNVTN-banner3
HNVTN-banner6
HNVTN-banner7

lør19Aug2017

Sist oppdatertsøn, 30 jul 2017 2pm

Font Size

Cpanel

Đại sứ quán Việt Nam cộng sản tại Oslo, một thách thức đoàn kết

"Đại sứ quán Việt Nam CS sẽ mở cửa mùa thu 2010"

Báo Tiền Phong, cơ quan trung ương của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (ngày 16.08.2009) loan báo Đại sứ quán Việt Nam tại Oslo sẽ mở vào mùa thu 2010.

Ngược dòng lịch sử, trước 75, Việt Nam Cộng Hòa đã có Đại sứ quán tại Oslo. Sau khi cộng sản Hà Nội thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam, năm 1971 họ thành lập  một phòng Thông tin tại Oslo với sứ mạng vận động dư luận chính giới và quần chúng chống Mỹ, ủng hộ họ. Sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất dưới sự kiểm soát của Đảng cộng sản (ĐCS), Hà Nội chính thức bang giao với Oslo, đại sứ quán cộng sản được thiết lập năm 1978, nhưng chỉ ba năm sau thì đóng cửa (“với lý do kinh tế”, theo một mẩu tin ngắn trên báo chí lúc đó), để lại một ‘phòng thông tin’ do một đảng viên tên Mai Thế Nguyên lãnh đạo. Khí thế người Việt tị nạn cộng sản thời đó rất cao, ngàn người như một, trong một dịp thử sức, Phòng Thông tin treo cờ đỏ sao vàng, lập tức hằng trăm người – do vận động chớp nhoáng của Hội Thân hữu Người Việt tại Na-uy – kéo đến hạ cờ cộng sản. Từ đó đến nay, hoạt động của nhóm ‘thông tin’ này thu vào bóng tối. Viết sách xuyên tạc lịch sử Việt Nam phổ biến trong một số trường học. Thuyết trình về ‘văn hóa Việt Nam’, trong đó bao giờ cũng nói đến người Việt tị nạn như những kẻ phản động, ít học, theo chân đế quốc. Ngoài ra người lãnh đạo ‘phòng thông tin’ này tự nhận là đại biểu Việt kiều Bắc Âu để đọc tham luận trong Đại hội Đảng. Công tác ngoại giao và dịch vụ lãnh sự liên quan tới Na-uy được thực hiện bởi Đại sứ quán VN tại Thụy-điển, rồi Đan-mạch. Đối lại, Na-uy thiết lập Đại sứ quán tại Hà Nội từ năm 1996.

Một điều đáng lưu ý: tuy chưa có sứ quán, Việt Nam vẫn cử đại sứ từ năm 2005 do ông Nguyễn Xuân Hồng (trình ủy nhiệm thư lên Thái tử Haakon ngày 27.04.2005). Sau đó quan chức này ở đâu, hoạt động gì, ít người biết. Người Việt ở Na-uy xin chiếu khán Việt Nam vẫn phải gửi sổ thông hành tới Tòa Đại sứ VN tại Đan-mạch.

Vai trò bất bình thường của một sứ quán

Trong bang giao song phương giữa hai quốc gia, lập sứ quán là việc bình thường. Cái bất bình thường và bất tường của Đại sứ quán Việt Nam là mục đích của nó. Mục đích này đã được trình bày trên nhiều báo chí tại Việt Nam, dưới hình thức phỏng vấn kiến trúc sư Mai Thế Nguyên – người được báo Tiền Phong (18.02.08) tôn là ‘Tổng lãnh sự Việt Nam tại Na-uy’, do dấn thân nhiệt thành cho ĐCS Việt Nam từ nửa thế kỷ nay trên đất nước Na-uy, chủ yếu là lãnh vực tuyên truyền, vận động. 

Mục đích 1: “Tập hợp và đoàn kết sức mạnh của cộng đồng người Việt”

Đây là một mục đích rất lạ đời của một tòa đại sứ. Thường sứ mạng của một cơ sở ngoại giao là duy trì liên hệ ngoại giao và bảo vệ quyền lợi kinh tế, văn hóa và lãnh sự. Chưa từng thấy một tòa đại sứ nào mở ra “để tập hợp” kiều bào, nhất là khi những kiều bào này trên pháp lý đã thành người bản địa, và trên tâm lý muốn xa lánh nhà cầm quyền bất chính danh. 

Mục đích 2: “Xóa vùng trắng, vùng trống về hoạt động hội đoàn của người Việt Nam”

Công tác tình báo tuy không phải là sứ mạng chính thức, nhưng rất thông thường ở các sứ quán. Nhưng “xóa vùng trắng, vùng trống” là một nhiệm vụ mà người Na-uy không quen với xã hội cộng sản khó hình dung là cái gì, càng khó tưởng tượng nó là ‘mục đích’ của việc thiết lập tòa đại sứ. Đó là vô hiệu hóa thành phần chống đối và trung lập, nhuộm đỏ cộng đồng Việt kiều. Đó là lấp đầy các sinh hoạt cộng đồng còn bỏ ngỏ. Theo kinh nghiệm ở các nước Đông Âu cũ, ‘xóa vùng trắng vùng trống’ bao gồm các việc như: dạy tiếng Việt cho trẻ em và cho người bản địa, sinh hoạt văn nghệ, thể thao cho thanh niên, làm người phát ngôn chính thức mỗi khi báo chí địa phương cần phỏng vấn, tiếp đón hoan nghênh các phái đoàn cộng sản, lập giáo hội Phật giáo yêu nước, lập hội Công giáo yêu nước, lập hội phụ nữ yêu nước, mở quán cà phê Việt Nam, mở nhà văn hóa Việt Nam, tổ chức Tết nguyên đán, Tết Trung Thu, chiêu dụ thương gia, thu thuế chợ, thuế bảo vệ các cửa hành kinh doanh, thu hoa hồng lao động, thanh toán cá nhân ‘ngoan cố’, và quan trọng nhất bôi nhọ, phân hóa các tổ chức và cá nhân đứng ngoài hàng... 

Hai mục đích trên đây chỉ là một phần của 9 ‘nhiệm vụ chủ yếu’ theo Nghị quyết 36 (26.3.2004) của Bộ Chính trị, như sau: 

1-      Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước

2-      Thu hút, trọng dụng nhân tài

3-      Thu hút đầu tư, kinh doanh, kiều hối.

4-      Tập hợp đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài

5-      Dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng.

6-      Thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước.

7-      Khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại.

8-      Các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

9-      Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống.

 Trong 9 điều kể trên, điều 1 che giấu lòng dạ man trá dưới một cái vỏ mã tốt đẹp. Thẳng thắn mà nói, cách tuyệt hảo để thực hiện điều 1, là ĐCS đừng thi hành 8 điều còn lại. Đọc ‘9 nhiệm vụ chủ yếu’ cộng sản nhắm vào người Việt hải ngoại, ta thấy họ làm phúc tứ phương mà bỏ chùa nhà long lở.

Làm phúc tứ phương, bỏ chùa nhà long lở

Trừ khoảng 100 du sinh và số nhỏ di dân bất hợp pháp hoặc được hợp lệ hóa, đại đa số của khoảng 20.000 người Việt tại Na-uy là người tị nạn cộng sản. Họ có một tương quan đặc biệt với Việt Nam, không phải tương quan mà chính quyền VN hoang tưởng:

1. Họ là công dân Na-uy gốc Việt, nhưng hoàn toàn không có quan hệ ‘kiều bào’ với Tòa Đại sứ Việt Nam.

2. Họ là công dân một nước đứng hàng đầu thế giới về chỉ số phát triển con người, họ tự lo liệu được, không cần bất cứ sự giúp đỡ nào của ngoại bang. Điều 1 trong ‘9 nhiệm vụ chủ yếu’ của NQ 36 là một trò hài hước trơ trẽn.

3. Đại đa số rời bỏ Việt Nam vì lý tưởng tự do, không chấp nhận chế độ cộng sản. Họ không có nhu cầu tìm hiểu về một chủ thuyết độc tài thụt hậu đang tan rữa ở giai đoạn chót.

4. Họ ra đi để bảo vệ văn hóa và luân lý cổ truyền Việt Nam. Họ đã, đang và sẽ có khả năng tự duy trì và phát huy truyền thống cao đẹp Việt Nam trong gia đình, giáo hội và các đoàn thể của họ. Trong khi đó, chính quyền Việt Nam đang làm băng hoại những giá trị ấy ngay trong nước. Lẽ ra chính quyền VN nên dành tiền bạc và nỗ lực giúp đỡ các phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài, ngăn cản làn sóng phạm pháp trong nước tuôn ra nước ngoài làm mất thanh danh Tổ Quốc, và trên hết chỉnh đốn lại luân lý, giáo dục trong nước, diệt trừ tham nhũng và tệ đoan xã hội...


5. Đảng nói Việt kiều thiếu thông tin. Nhưng họ lại không được biết đầy đủ thông tin cần biết –  đó là tình cảnh thực của đồng bào nơi quê cũ. Nếu chính quyền không ngăn cản và bưng bít, họ sẽ biết trung thực hơn, nhờ đó giúp đỡ và xây dựng quê cũ tốt hơn. Báo Tiền Phong viết “Thời gian gần đây, khi sóng truyền hình kênh VTV4 đến được vùng đất này, cái nhìn về Việt Nam của những người này bắt đầu có sự thay đổi.” Nhưng người từ Việt Nam sang thăm thân nhân tại Na-uy đã ngạc nhiên thấy: thứ nhất ở Việt Nam khán giả không được coi những chương trình này; thứ hai họ thấy xã hội VN trên VTV4 hoàn toàn lạ lẫm so với xã hội VN họ đang sống.

6. Nhận định tổng quát về tình hình Việt kiều hải ngoại, Bộ Chính trị viết trong NQ 36: “Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam”. Nhận định này là hệ luận của ‘chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh’ (tóm gọn trong công thức ‘yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội’). Một tam đoạn luận nhỏ sẽ đưa tới kết luận ‘Ai chống Đảng CS là chống lại đất nước’. Lối suy luận này nay đã trên 70 tuổi thọ, và từ ngày được phát minh tới nay, đã làm thiệt hại không biết bao nhiêu triệu sinh linh. ĐCS phải sớm từ bỏ lý luận mù quáng phản quốc này. Việt kiều là những người yêu nước tha thiết và có cơ hội nhìn thấy một phần những tệ nạn của chế độ, và dám lên tiếng. Bao lâu ĐCS còn vênh váo tự gọi mình là ‘thần thánh’ và phá hoại đất nước, thì còn có người yêu nước, trong và ngoài nước, chống lại.

Chống sứ quán Việt Nam?

Người Việt tại Na-uy không chống việc thiết lập sứ quán VN tại Oslo – một quyết định đã rồi của Quốc Hội Na-uy, và có thể quyết định này dựa trên quyền lợi của đất nước Na-uy. Ngược lại, họ mừng cho một số quan chức Việt Nam sắp có dịp quan sát tận mắt lề lối sinh hoạt dân chủ và nếp sống văn minh Na-uy. Họ hy vọng các đảng viên trong sứ quán học hỏi được phần nào từ mô hình xã hội chủ nghĩa gần như toàn bích này, để thay thế cho cái xã hội chủ nghĩa lai căng, lỗi thời và mục rữa trên quê nhà. Nhưng người Việt tại đây quyết liệt chống sự can thiệp của ngoại nhân vào đời sống của họ. Làm việc trong cơ quan ngoại giao, ít nhất họ cũng phải hiểu rằng trong chế độ pháp trị, xâm phạm an ninh cá nhân là phạm pháp.

Nhưng người Việt phản ứng với lời đe dọa ‘có biện pháp phù hợp’ của sứ quán tương lai. Theo ngữ vựng cộng sản, và dựa trên kinh nghiệm đau thương trong quá khứ (từ thời Việt Minh, MTGPMN, Tết Mậu Thân, hậu ‘giải phóng’..) người ta có thể hình dung những biện pháp đó là gì. Nhưng Việt Nam có cam kết quốc tế chống khủng bố, hy vọng là họ phải từ bỏ khủng bố với chính ‘kiều bào’ của họ. Họ phải từ bỏ khủng bố không phải vì thương xót kiều bào mà vì ngày nay biện pháp này không ăn tiền nữa.

Ổn thỏa nhất là hai bên, sứ quán và người Na-uy gốc Việt, giới hạn giao thiệp trong dịch vụ duy nhất, dịch vụ chiếu khán. Chính quyền cộng sản cứ âm thầm bòn rút tiền bạc, nhưng không nên làm gì khác. Năm rồi số tiền bạc Việt kiều khắp thế giới chuyển qua hệ thống ngân hàng là trên 7 tỉ Mỹ kim, chưa kể 2 tỉ của trên 3000 dự án đầu tư của Việt kiều. Và chưa kể con số (ngoài thống kê) tiền mặt mang về nước. Báo chí Na-uy có lần ví Việt kiều như con bò sữa của Nhà nước Việt Nam. Nhà nước này không nên dại dột làm con bò giật mình để làm tắc nghẽn cả một nguồn sữa vô tận.

Tóm lại, người Việt không sợ hãi, cũng không cần chống phá ai. Nhưng họ phải bảo vệ cuộc sống an lành của mình, không để bất cứ ai quấy rối hay lạm dụng. Quan trọng hơn hết, họ có nghĩa vụ bảo vệ con cháu mình khỏi nhiễm độc tinh thần. Thử tưởng tượng mô hình giáo dục vô luân và dối trá tại Việt Nam được du nhập vào các gia đình lễ giáo Việt Nam ở Oslo, Bergen, Trondheim, Stavanger! 

Một câu nói cảnh tỉnh

‘Tổng lãnh sự’ Mai Thế Nguyên nói với báo Tiền Phong: “Người Việt Nam sau những giờ làm thường trở về nhà và ít có những tiếp xúc với cộng đồng Việt. Hiện chúng ta chưa mở lại ĐSQ tại Na Uy vì vậy, chưa có tổ chức hay cá nhân nào đứng ra tập hợp bà con, vì sự nghiệp phát triển cộng đồng- nếu sớm khắc phục điều này, hy vọng một tương lai không xa cộng đồng Việt ở Na Uy cũng sẽ là một cộng đồng mạnh và có nhiều đóng góp cho quê hương”.

Lời tuyên bố trên bao hàm 4 điều dối trá:

Dối trá thứ nhất: là “chưa có tổ chức nào tập hợp bà con”. Sự thật là người Việt tại Na-uy đang có nhiều tổ chức, rất nhiều.

Dối trá thứ hai: là “vì sự nghiệp phát triển cộng đồng”. Sự thật là chính quyền cộng sản làm mọi việc chỉ vì quyền lợi đảng và cá nhân cán bộ. Ngay ở trong nước, họ đã vì sự nghiệp đảng cộng sản mà đàn áp nhân dân, cắt đất cắt biển dâng cho ngoại bang... thì xá gì ‘khúc ruột ngàn dặm’. Vì quyền lợi, chắc chắn họ sẽ không từ khước một thủ đoạn nào để chống phá cộng đồng.

Dối trá thứ ba: “ít tiếp xúc với cộng đồng”. Không hiểu ông kiến trúc sư (đi du học từ năm 14, năm nay 70 tuổi) hiểu từ ‘cộng đồng’ là gì? Nếu cộng đồng là tập thể thì trên 6000 Phật tử và khoảng 5000 Ki-tô-hữu vẫn tiếp xúc thường xuyên với cộng đồng của họ. Ngoài ra, những tập thể đông đảo người Việt Tự do vẫn sinh hoạt cộng đồng, vẫn cùng nhau mừng các ngày lễ hội dân tộc, cùng nhau trao đổi về tình hình quê nhà và giúp đỡ những người bị nhà cầm quyền cộng sản bỏ bê. Từ đó người ta phải hiểu ‘ít tiếp xúc’ chỉ là xa lánh những tổ chức mờ ám.

Dối trá thứ tư: cán bộ Nguyên đã dối đảng. Ông không báo cáo những cuộc ‘tiếp xúc nồng nhiệt’ (bằng cà chua thối và những câu đả đảo) mà bà con Việt Nam dành cho các lãnh tụ cộng sản mỗi lần họ sang Na-uy cầu thực. Báo cáo láo đã trở thành một thói quen. Ngày 30.4.1999, khi các hội đoàn người Việt Tự do thắp nến trước Quốc Hội Na-uy để đánh dấu ngày Miền Nam rơi vào tay cộng sản, và canh thức cầu nguyện cho hòa bình công lý tại Việt Nam, Mai Thế Nguyên đã báo cáo với Đại hội IX ĐCS tại Hà Nội là giới trẻ Việt Nam tại Na-uy đã thắp nến hướng về quê hương cầu chúc đại hội thành công!

Dối trá chồng chất dối trá, nhưng người ta vẫn có thể lọc ra một lợi ích, một cảnh tỉnh: cộng đồng Việt Nam tại Na-uy đã mạnh trong một xã hội lành mạnh, nhưng chưa đủ mạnh để đối phó với những mưu toan qui mô nhằm quấy phá cuộc sống an lạc, và đặc biệt làm thối nát tương lai con cháu họ. Kinh nghiệm ở các nước Đông Âu cho thấy tình trạng phạm pháp và tệ nạn xã hội trong tập thể người Việt không tỉ lệ nghịch với mức độ kiểm soát của các cơ quan lãnh sự Việt Nam. Ngược lại, ở một vài nơi, sự toa rập ngấm ngầm giữa sứ quán với kiều dân đã tạo ra những khó khăn không giải quyết nổi cho chính quyền bản địa. Một điều chắc chắn: nếu giới trẻ Việt Nam tiếp xúc với nhân viên sứ quán và cán bộ tuyên truyền cộng sản, họ sẽ bị lây nhiễm, sẽ mau chóng vất đi những giá trị nhân bản họ học được từ xã hội và học đường Na-uy, họ sẽ quên đi bản sắc Việt Nam chính thống mà cha mẹ họ khổ công phát triển. Chứng minh ư? – Xin quan sát và nếu không có dịp quan sát tận mắt thì chỉ cần đọc báo chí trong nước về các tệ đoan học đường và gia đình Việt Nam, sẽ thấy nhận định trên đây còn hơi dè dặt. 

Khi con người bị đe dọa

Tôi thích xem phim tài liệu thế giới loài vật trên đài National Geographic. Cọp beo và chó sói luôn luôn rình vồ con mồi đi lẻ tẻ trong đàn trâu bò, hươu nai. Nhưng có lần một đàn trâu đang bị săn đuổi đến cùng đường thì một con mẹ, trong phút bênh con tuyệt vọng, đã can đảm dừng chân, giơ sừng ra nghênh chiến. Rồi theo bản năng tự vệ, cả đàn dừng chân theo, và bắt đầu tấn công con cọp. Con cọp cô thế phải chạy để giữ mạng. Hình ảnh rất bình thường mà bài học muôn đời đúng – Chia rẽ thì chết, đoàn kết thì sống! 

Phạm Thanh Tuấn

(Hội viên Hội Người Việt Tị nạn tại Na Uy)

 

You have no rights to post comments

Bildegalleri

Trung Thu Oslo 2009
Trung thu Lørenskog 2010
Tết Trung Thu 2011
Barnasverdensdag
Khai trương Nhà Việt Nam
Lễ bế giảng lớp Việt ngữ Nhà Việt Nam
CĐNV Nauy 09.06.11 chống phái đoàn ngoại giao VC tại Storting
Tết Trung Thu 2012
Tết Tân Mão 2011
Trung Thu Oslo 2008